Thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, thúc đẩy phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Bộ Công an đã chủ trì xây dựng dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Đây là một đề xuất chính sách mới, có ý nghĩa quan trọng trong việc thể chế hóa kịp thời các nghị quyết của Đảng, đồng thời tạo hành lang pháp lý phù hợp để xử lý hài hòa giữa yêu cầu phát triển và yêu cầu bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa. Điểm nổi bật của dự thảo là chuyển mạnh tư duy từ xử lý thuần túy các vi phạm sang xử lý gắn với khắc phục hậu quả, bảo vệ lợi ích chung và khuyến khích đổi mới sáng tạo, nhưng vẫn kiên quyết không dung túng đối với các hành vi tham nhũng, tiêu cực, trục lợi hoặc cố ý vi phạm pháp luật.
1. Những điểm nổi bật của dự thảo Nghị quyết
Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Dự thảo được xây dựng trên cơ sở quán triệt và cụ thể hóa nhiều nghị quyết quan trọng của Đảng như Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước; Kết luận số 14-KL/TW về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung... Điều này cho thấy dự thảo không chỉ giải quyết các vấn đề pháp lý trước mắt mà còn phục vụ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Thứ hai, đề cao nguyên tắc khắc phục hậu quả thay vì chỉ tập trung xử lý bằng chế tài hình sự. Một điểm mới rất đáng chú ý là dự thảo đặt việc khắc phục hậu quả trở thành tiêu chí quan trọng trong xử lý các hành vi vi phạm. Đối với những trường hợp vi phạm vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh, không có động cơ tham nhũng, trục lợi và vẫn còn khả năng khắc phục hậu quả thì cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét áp dụng cơ chế xử lý phù hợp nhằm tạo điều kiện để tiếp tục hoàn thành dự án, hoạt động đầu tư hoặc nhiệm vụ phát triển. Đây là bước phát triển mới của chính sách pháp luật theo hướng hài hòa giữa yêu cầu xử lý vi phạm với yêu cầu bảo vệ lợi ích chung.
Thứ ba, lần đầu tiên đề xuất cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự. Dự thảo bổ sung cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, hiện chưa được quy định trong pháp luật hình sự và tố tụng hình sự hiện hành. Theo đó, đối với những trường hợp đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định, không có hành vi tham nhũng, có cam kết và khả năng khắc phục hậu quả thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét tạm hoãn việc truy cứu trách nhiệm hình sự để tổ chức, cá nhân tập trung khắc phục hậu quả. Đây là chính sách mới, vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, vừa tạo điều kiện để hạn chế thiệt hại và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
Thứ tư, bổ sung căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp đủ điều kiện. Dự thảo cũng đề xuất bổ sung căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện theo Nghị quyết, đặc biệt là các trường hợp hành động vì lợi ích chung, không có yếu tố tham nhũng và đã tích cực khắc phục hậu quả. Chính sách này góp phần cụ thể hóa quan điểm của Đảng về bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để xử lý thống nhất trong thực tiễn.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế tố tụng để tạo điều kiện khắc phục hậu quả. Để bảo đảm tính khả thi của các chính sách nêu trên, dự thảo đồng thời bổ sung các căn cứ không khởi tố vụ án, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm, điều tra, truy tố, xét xử trong những trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện theo Nghị quyết. Việc áp dụng các cơ chế này luôn gắn với yêu cầu có cam kết khắc phục hậu quả và chịu sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền; sau thời gian tạm đình chỉ, kết quả khắc phục sẽ là căn cứ
2. Những định hướng chính sách lớn được thể hiện trong dự thảo Nghị quyết
Thứ nhất, khẳng định quyết tâm hoàn thiện thể chế để khơi thông nguồn lực phát triển, đồng thời bảo đảm kỷ cương pháp luật.
Định hướng chính sách thứ nhất được thể hiện trong dự thảo là tiếp tục thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng môi trường pháp lý an toàn, minh bạch, ổn định nhằm khuyến khích phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là sự cụ thể hóa các định hướng lớn được xác định trong Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Điểm đáng chú ý là dự thảo không đặt mục tiêu nới lỏng hay giảm nhẹ việc xử lý vi phạm mà hướng tới xây dựng cơ chế pháp lý đủ linh hoạt để giải quyết những tình huống phát sinh trong thực tiễn phát triển. Những chính sách đặc thù được đề xuất nhằm tháo gỡ các "điểm nghẽn" về pháp lý, khắc phục tâm lý e ngại, sợ sai, né tránh trách nhiệm trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, nhưng vẫn bảo đảm mọi quyết định đều được đặt trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Qua đó, dự thảo khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước là phát triển phải đi đôi với kỷ cương, đổi mới phải gắn với kiểm soát quyền lực và thượng tôn pháp luật.
Thứ hai, đổi mới tư duy lập pháp theo hướng lấy khắc phục hậu quả và hiệu quả phát triển làm trọng tâm
Định hướng chính sách thứ hai của dự thảo thể hiện sự đổi mới trong tư duy xây dựng pháp luật về xử lý vi phạm. Nếu trước đây việc xử lý chủ yếu dựa trên việc áp dụng các chế tài pháp lý thì dự thảo lần này hướng đến cách tiếp cận toàn diện hơn, kết hợp hài hòa giữa xử lý trách nhiệm với khuyến khích khắc phục hậu quả, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời tạo điều kiện duy trì hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Theo đó, dự thảo đề xuất một số cơ chế mới như xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp tố tụng phù hợp đối với những trường hợp đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định, không có động cơ vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực và đã chủ động khắc phục hậu quả. Các cơ chế này không nhằm giảm nhẹ hay hợp pháp hóa hành vi vi phạm mà hướng đến mục tiêu hạn chế thiệt hại, khôi phục trật tự pháp luật, bảo vệ tài sản của Nhà nước và xã hội, qua đó tạo điều kiện để tiếp tục huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Định hướng này phản ánh bước chuyển từ tư duy "xử lý để trừng phạt" sang "xử lý để khắc phục, phòng ngừa và phát triển", trong đó khắc phục hậu quả và bảo vệ lợi ích quốc gia được coi là mục tiêu ưu tiên của chính sách pháp luật. Đồng thời, đây cũng là sự cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, phân định rõ trách nhiệm hành chính, dân sự và hình sự, khắc phục tình trạng hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự nhưng không bỏ lọt tội phạm, góp phần xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, minh bạch và ổn định trong giai đoạn phát triển mới.
Thứ ba, bảo đảm thượng tôn pháp luật và kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong áp dụng cơ chế đặc thù
Định hướng chính sách thứ ba của dự thảo là xây dựng cơ chế xử lý đặc thù nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc thượng tôn pháp luật và kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong quá trình áp dụng. Điều này khẳng định rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước rằng các cơ chế đặc thù không phải là sự "nới lỏng" hay "miễn trừ" trách nhiệm pháp lý, mà là những giải pháp có điều kiện nhằm xử lý hài hòa giữa yêu cầu phát triển với yêu cầu bảo đảm kỷ cương pháp luật. Theo đó, việc áp dụng các cơ chế đặc thù chỉ được xem xét khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện do dự thảo Nghị quyết quy định, trên cơ sở đánh giá toàn diện tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, động cơ thực hiện hành vi và kết quả khắc phục hậu quả. Đặc biệt, dự thảo xác định rõ các cơ chế này không áp dụng đối với các hành vi tham nhũng, tiêu cực, vụ lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng chính sách để trục lợi. Quy định này thể hiện sự phân hóa rõ ràng giữa những trường hợp vi phạm phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích chung với những hành vi cố ý vi phạm vì động cơ cá nhân, qua đó bảo đảm việc áp dụng chính sách đúng đối tượng, đúng mục đích và không tạo ra khoảng trống pháp lý để bị lợi dụng. Định hướng này phản ánh sự cân bằng giữa yêu cầu tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho đổi mới, sáng tạo với yêu cầu giữ vững tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời, đây cũng là sự cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó mọi cơ chế đặc thù đều phải được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền. Nhờ đó, dự thảo vừa góp phần khuyến khích cán bộ, doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, vừa giữ vững kỷ cương, kỷ luật và củng cố niềm tin của xã hội đối với pháp luật và công lý.
3. Kết luận
Dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là bước thể chế hóa kịp thời và toàn diện các chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các chính sách được đề xuất thể hiện rõ định hướng xây dựng môi trường pháp lý an toàn, minh bạch, đổi mới tư duy xử lý vi phạm theo hướng đề cao khắc phục hậu quả và hiệu quả phát triển, đồng thời bảo đảm nguyên tắc thượng tôn pháp luật, kiểm soát chặt chẽ quyền lực và kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Việc ban hành Nghị quyết sẽ góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn về pháp lý, khơi thông nguồn lực cho phát triển, tạo động lực khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm sự hài hòa giữa yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với yêu cầu giữ vững kỷ cương pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
GVC, ThS Huỳnh Trung Hậu
Khoa Luật - T05

Ban Biên Tập Website
Mọi thông tin phản hồi xin gửi về hòm thư điện tử của Nhà trường hoặc qua hệ thống Hộp thư góp ý.


