Với sự thay đổi của mô hình tổ chức các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong giai đoạn hiện nay, cùng với diễn biến phức tạp của tội phạm trên không gian mạng, tội phạm xuyên quốc gia, tham nhũng, kinh tế, tài chính và yêu cầu chuyển đổi số hoạt động tư pháp, bài viết khẳng định việc ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) là yêu cầu khách quan, cấp thiết. Việc sửa đổi cần hướng tới xây dựng nền tố tụng hình sự hiện đại, công bằng, công khai, minh bạch, nhanh chóng, hiệu quả và nhân văn; đồng thời tăng cường kiểm soát quyền lực, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nâng cao khả năng phát hiện, chứng minh, xử lý tội phạm và thu hồi tài sản do phạm tội mà có trong tình hình mới.
I. Đặt vấn đề
Ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13. Sau khi được sửa đổi, bổ sung và triển khai thi hành từ ngày 01/01/2018, Bộ luật đã tạo lập khuôn khổ pháp lý quan trọng cho việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Nhiều chế định mới về suy đoán vô tội, tranh tụng trong xét xử, quyền bào chữa, ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh khi hỏi cung, dữ liệu điện tử và trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án, hạn chế oan, sai, bỏ lọt tội phạm và bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Tuy nhiên, với yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước, việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách tư pháp, tinh gọn tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số quốc gia đặt ra những yêu cầu mới đối với pháp luật tố tụng hình sự, đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền phải nhanh chóng rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật Tố tụng hình sự để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới.
Ngày 24/6/2026, Viện kiểm sát nhân dân tối cao công bố hồ sơ chính sách dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) để lấy ý kiến. Hồ sơ dự án xác định phạm vi sửa đổi toàn diện, dự kiến Bộ luật gồm 499 điều; trong đó bổ sung 12 điều mới, sửa đổi, bổ sung 79 điều, giữ nguyên 408 điều và bãi bỏ 05 điều. Việc lựa chọn phương án sửa đổi toàn diện cho thấy những vấn đề đặt ra không chỉ là sửa chữa một số quy định mang tính kỹ thuật, mà liên quan trực tiếp đến triết lý, nguyên tắc, mô hình và phương thức vận hành của nền tố tụng hình sự trong giai đoạn phát triển mới.

Ảnh minh họa (Nguồn: internet)
II. Sự cần thiết ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)
2.1. Thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp
Sự cần thiết sửa đổi Luật trước hết xuất phát từ yêu cầu thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương mới của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và thực hiện yêu cầu cải cách tư pháp, cụ thể:
- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 yêu cầu xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước chặt chẽ. Đối với lĩnh vực tố tụng hình sự, yêu cầu này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân định chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm giữa cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án; nâng cao tính độc lập, chủ động của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhưng đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
- Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước. Pháp luật không chỉ phải bảo đảm quản lý nhà nước mà còn phải tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, phản ứng kịp thời trước những vấn đề mới của thực tiễn. Vì vậy, việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự phải khắc phục các quy định chồng chéo, thiếu rõ ràng, khó thực hiện; đồng thời hình thành các thủ tục hiện đại, tiết kiệm, hiệu quả và có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của tình hình tội phạm.
- Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, trong đó thể chế phải đi trước một bước. Để chuyển đổi số trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được triển khai thực chất, Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) phải ghi nhận và điều chỉnh đầy đủ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, lệnh và quyết định điện tử, chữ ký số, dữ liệu điện tử, việc cấp, giao, gửi, thông báo văn bản bằng phương tiện điện tử và các hình thức tham gia tố tụng trực tuyến phù hợp.
2.2. Đáp ứng yêu cầu đấu tranh với tội phạm mạng, tội phạm công nghệ cao và tội phạm xuyên quốc gia
- Theo thông tin được Bộ Công an công bố, từ năm 2022 đến tháng 10/2025, cả nước xảy ra khoảng 17.200 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng với hàng trăm nghìn nạn nhân. Nhiều đường dây được tổ chức từ địa bàn nước ngoài, sử dụng tài khoản ngân hàng, ví điện tử, tài khoản mạng xã hội, số điện thoại và thiết bị kỹ thuật tại nhiều quốc gia để che giấu danh tính và dòng tiền. Đặc điểm của tội phạm trong môi trường số làm thay đổi căn bản phương thức phát hiện, thu thập và chứng minh tội phạm. Dữ liệu có thể được tạo lập, lưu trữ, truyền đưa và xóa bỏ trong thời gian rất ngắn; có thể nằm trên máy chủ, nền tảng điện toán đám mây hoặc hệ thống của doanh nghiệp ở nước ngoài. Việc thu thập chứng cứ vì vậy không chỉ phụ thuộc vào thẩm quyền trong lãnh thổ mà còn gắn với khả năng bảo toàn dữ liệu, yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ cung cấp thông tin, giám định kỹ thuật số và tương trợ tư pháp quốc tế.
Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 24/12/2024 và mở ký tại Hà Nội trong các ngày 25 và 26/10/2025 đã thiết lập khuôn khổ toàn cầu về phòng, chống tội phạm mạng, thu thập chứng cứ điện tử và hợp tác quốc tế. Việc Việt Nam tham gia các cơ chế quốc tế mới đòi hỏi pháp luật trong nước phải có quy định tương thích về bảo toàn, cung cấp, thu thập và chuyển giao dữ liệu; phối hợp điều tra; truy tìm đối tượng, tài sản; đồng thời bảo đảm chủ quyền quốc gia, an ninh dữ liệu và quyền con người.
2.3. Hoàn thiện chế định chứng cứ và chứng cứ điện tử
- Chứng cứ là nền tảng của mọi quyết định tố tụng. Trong điều kiện hiện nay, bên cạnh vật chứng, lời khai, kết luận giám định và tài liệu truyền thống, dữ liệu điện tử ngày càng giữ vai trò quyết định trong nhiều vụ án. Tuy nhiên, quy định hiện hành chưa giải quyết đầy đủ các vấn đề về phát hiện, thu giữ, sao chép, phục hồi, bảo quản, giám định và xuất trình dữ liệu; chưa chuẩn hóa chuỗi quản lý dữ liệu điện tử để chứng minh nguồn gốc, tính toàn vẹn và độ tin cậy trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) cần làm rõ điều kiện để dữ liệu điện tử được công nhận là chứng cứ; thẩm quyền và trình tự yêu cầu tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dữ liệu; cơ chế bảo toàn dữ liệu; trách nhiệm ghi nhận mọi thao tác đối với dữ liệu; tiêu chuẩn sử dụng bản sao kỹ thuật số; trình tự phục hồi dữ liệu bị xóa và việc kiểm tra, đối chiếu tại phiên tòa. Đồng thời, cần hoàn thiện nguyên tắc loại trừ chứng cứ thu thập trái pháp luật nhằm bảo đảm mọi kết luận buộc tội được xây dựng trên chứng cứ hợp pháp, khách quan và có thể kiểm chứng.
2.4. Hình thành, thúc đẩy và từng bước triển khai lộ trình thực hiện tố tụng hình sự trên môi trường số
Việc số hóa hồ sơ chỉ là bước đầu của chuyển đổi số. Một nền tố tụng số đòi hỏi quy trình nghiệp vụ phải được thiết kế lại trên cơ sở dữ liệu, cho phép liên thông có kiểm soát giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án. Hồ sơ, tài liệu, lệnh, quyết định và thông báo tố tụng cần được tạo lập, ký số, chuyển giao, lưu trữ và kiểm tra trên hệ thống thống nhất, bảo đảm xác thực chủ thể, toàn vẹn dữ liệu, phân quyền truy cập và lưu vết thao tác.
Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) cần tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện một số hoạt động tố tụng bằng phương tiện điện tử và trực tuyến, nhưng phải xác định rõ phạm vi, điều kiện và giới hạn. Công nghệ ứng dụng là không thể thiếu nhưng không được lạm dụng công nghệ để ảnh hưởng đến quyền bào chữa, trực tiếp trình bày ý kiến hoặc khả năng đánh giá trực tiếp lời khai khi những quyền này có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết vụ án. Mọi phương thức tố tụng trực tuyến phải đi kèm với tiêu chuẩn bảo mật, xác thực danh tính, chất lượng đường truyền, ghi nhận đầy đủ diễn biến và cơ chế xử lý sự cố kỹ thuật.
2.5. Phân hóa thủ tục tố tụng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tư pháp
Thực tiễn giải quyết án cho thấy nhiều vụ án có chứng cứ rõ ràng, người bị buộc tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận trách nhiệm và tích cực khắc phục hậu quả nhưng vẫn phải thực hiện đầy đủ các giai đoạn, thủ tục như vụ án phức tạp, có tranh chấp về chứng cứ. Trong khi đó, thủ tục rút gọn hiện hành chưa phát huy hiệu quả và phạm vi áp dụng còn hẹp. Việc áp dụng một quy trình tương đối đồng nhất cho các vụ án có mức độ phức tạp khác nhau làm kéo dài thời gian giải quyết, tăng chi phí và tạo áp lực cho cơ quan tiến hành tố tụng.
Hồ sơ dự thảo Bộ luật đang nghiên cứu các thủ tục mới như miễn trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, thủ tục trong trường hợp người phạm tội nhận tội và chấp nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng. Đây là hướng tiếp cận có thể góp phần phân hóa vụ án, khuyến khích hợp tác, khắc phục hậu quả và tập trung nguồn lực cho các vụ án nghiêm trọng, phức tạp. Tuy nhiên, các thủ tục này phải được thiết kế với những bảo đảm chặt chẽ: việc nhận tội phải hoàn toàn tự nguyện; không được coi lời nhận tội là chứng cứ duy nhất; phải có người bào chữa trong trường hợp luật định; có sự kiểm sát của Viện kiểm sát và kiểm tra của Tòa án; bảo đảm quyền rút lại ý chí khi có căn cứ cho rằng việc nhận tội không tự nguyện hoặc không phù hợp với chứng cứ của vụ án.
2.6. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản, xử lý vật chứng và khắc phục hậu quả
Đối với tội phạm tham nhũng, kinh tế, tài chính, hiệu quả đấu tranh không chỉ được đo bằng số người bị xử lý mà còn bằng khả năng ngăn chặn tẩu tán, thu hồi tài sản và khắc phục thiệt hại. Tài sản do phạm tội mà có có thể được chuyển đổi, che giấu, đứng tên người khác, hòa trộn vào tài sản hợp pháp hoặc dịch chuyển ra nước ngoài. Quy định hiện hành về kê biên, phong tỏa, quản lý và xử lý tài sản trong một số trường hợp chưa đủ linh hoạt, nhất là đối với tài sản mau hỏng, tài sản mất giá nhanh, tài sản thuộc sở hữu chung, tài sản thế chấp hoặc tài sản liên quan đến người thứ ba ngay tình.
Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) cần hoàn thiện căn cứ và thủ tục áp dụng sớm các biện pháp bảo toàn tài sản; xác định rõ trách nhiệm truy tìm tài sản ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin; quy định cơ chế xử lý sớm tài sản có nguy cơ giảm giá trị; bảo đảm quyền của chủ sở hữu, đồng sở hữu, bên nhận bảo đảm và người thứ ba ngay tình. Đối với tài sản ở nước ngoài, cần hình thành cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho yêu cầu phong tỏa khẩn cấp, tương trợ tư pháp, công nhận và thực hiện quyết định thu hồi tài sản theo điều ước quốc tế hoặc nguyên tắc có đi có lại.
2.7. Tăng cường kiểm soát quyền lực và bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm không đồng nghĩa với mở rộng quyền lực tố tụng không giới hạn. Mọi quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều phải được xác định rõ về căn cứ, phạm vi, trình tự, thời hạn và trách nhiệm. Đặc biệt, những biện pháp tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể, quyền sở hữu, quyền bí mật đời tư, bí mật thư tín và dữ liệu cá nhân phải được áp dụng trên cơ sở cần thiết, tương xứng và chịu sự kiểm tra, giám sát thực chất. Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) cần tăng cường cơ chế kiểm tra tính hợp pháp của quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ dữ liệu, phong tỏa tài khoản và kê biên tài sản; khuyến khích áp dụng các biện pháp thay thế tạm giam khi đủ điều kiện; bảo đảm quyền tiếp cận người bào chữa, quyền được thông tin, quyền khiếu nại và quyền yêu cầu bồi thường khi bị xâm phạm trái pháp luật.
2.8. Bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và yêu cầu hội nhập quốc tế
Từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành, nhiều đạo luật có liên quan đã được sửa đổi hoặc ban hành mới, trong đó có pháp luật về hình sự, tổ chức cơ quan điều tra hình sự, tư pháp người chưa thành niên, tương trợ tư pháp về hình sự, dữ liệu, an ninh mạng, giám định tư pháp, định giá tài sản và thi hành án. Việc sửa đổi toàn diện Bộ luật là điều kiện để rà soát, thống nhất thuật ngữ, chủ thể, thẩm quyền, trình tự và cơ chế phối hợp; hạn chế tình trạng quy định tại luật chuyên ngành không tương thích với quy định tố tụng hoặc phải dựa quá nhiều vào văn bản hướng dẫn dưới luật.
Mặt khác, hội nhập quốc tế sâu rộng đòi hỏi pháp luật tố tụng hình sự phải tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt trong bảo vệ quyền con người, chống tra tấn, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống tham nhũng, chống tội phạm mạng, dẫn độ và tương trợ tư pháp. Việc nội luật hóa phải có chọn lọc, phù hợp với Hiến pháp, mô hình tổ chức bộ máy, điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia của Việt Nam.
III. Một số yêu cầu cần quán triệt trong quá trình sửa đổi và tổ chức thi hành Bộ luật
3.1. Sửa đổi toàn diện nhưng phải kế thừa những quy định đang phát huy hiệu quả
Phạm vi sửa đổi toàn diện không đồng nghĩa với thay đổi toàn bộ quy định hiện hành. Cần đánh giá khách quan từng chế định, kế thừa những quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm, phù hợp với Hiến pháp và yêu cầu cải cách tư pháp; chỉ sửa đổi những nội dung thực sự bất cập, thiếu rõ ràng hoặc không còn phù hợp. Mỗi chính sách mới phải được đánh giá đầy đủ về tác động đối với quyền con người, tổ chức bộ máy, nhân lực, ngân sách, hạ tầng kỹ thuật và khả năng triển khai tại cơ sở.
3.2. Bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu xử lý tội phạm và bảo vệ quyền con người
Mục tiêu xử lý nhanh chóng, nghiêm minh tội phạm phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và trên cơ sở tôn trọng các quyền hiến định. Không nên lựa chọn giải pháp đơn giản hóa thủ tục bằng cách cắt giảm cơ học quyền bào chữa, quyền tranh tụng hoặc cơ chế kiểm soát tư pháp. Ngược lại, thủ tục rõ ràng, trách nhiệm giải trình đầy đủ và chứng cứ được thu thập hợp pháp sẽ làm cho kết quả xử lý tội phạm bền vững, hạn chế việc hủy, sửa quyết định, trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
3.3. Thiết kế quy định về công nghệ theo hướng trung lập, an toàn và có khả năng thích ứng
Công nghệ thay đổi nhanh hơn chu kỳ sửa đổi pháp luật. Vì vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) nên quy định nguyên tắc, tiêu chuẩn pháp lý và yêu cầu bảo đảm đối với dữ liệu, hồ sơ điện tử, định danh, chữ ký số và tố tụng trực tuyến, tránh phụ thuộc vào một công nghệ hoặc một nền tảng cụ thể. Các tiêu chuẩn kỹ thuật chi tiết có thể được quy định trong văn bản hướng dẫn, nhưng những nội dung liên quan trực tiếp đến quyền con người, giá trị chứng cứ, thẩm quyền và hậu quả pháp lý phải được quy định trong Bộ luật.
3.4. Chuẩn bị đồng bộ điều kiện tổ chức thi hành
Hiệu quả của Bộ luật phụ thuộc lớn vào chất lượng tổ chức thi hành. Cần xây dựng đồng bộ các văn bản quy định chi tiết, biểu mẫu, quy trình nghiệp vụ và quy chế phối hợp liên ngành; tổ chức tập huấn chuyên sâu cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán, người bào chữa và cán bộ kỹ thuật. Nội dung đào tạo phải chú trọng kỹ năng thu thập, phục hồi, giám định và đánh giá chứng cứ điện tử; điều tra tài chính; truy tìm tài sản; hợp tác quốc tế; bảo vệ dữ liệu cá nhân và vận hành hệ thống tố tụng điện tử.
Đồng thời, phải đầu tư hạ tầng số thống nhất, an toàn, có khả năng liên thông giữa các cơ quan; xây dựng cơ chế phân quyền truy cập, xác thực, lưu vết, sao lưu và phục hồi dữ liệu; bảo đảm kinh phí giám định, định giá, trợ giúp pháp lý, ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh và các chi phí tố tụng cần thiết. Việc triển khai cần có lộ trình, thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh phù hợp với điều kiện của từng địa phương, tránh tình trạng quy định tiến bộ nhưng không có đủ nguồn lực để thực hiện.
IV. Kết luận
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025) đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ công lý và bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, những thay đổi sâu sắc của tổ chức bộ máy, khoa học, công nghệ, môi trường số, tình hình tội phạm và quan hệ hợp tác quốc tế đã làm xuất hiện nhiều yêu cầu vượt ra ngoài khuôn khổ điều chỉnh hiện hành. Những khó khăn trong thu thập, đánh giá chứng cứ điện tử; xử lý vật chứng, tài sản; áp dụng thủ tục rút gọn; tố tụng điện tử, trực tuyến; kiểm soát quyền lực và hợp tác quốc tế cho thấy việc tiếp tục sửa đổi riêng lẻ một số điều không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn.
Việc ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi vì vậy là yêu cầu khách quan, cấp thiết, nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý cho nền tố tụng hình sự hiện đại, dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch, nhanh chóng, hiệu quả và nhân văn. Bộ luật mới phải đồng thời trở thành công cụ pháp lý sắc bén để phát hiện, chứng minh và xử lý tội phạm; cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực nhà nước; và thiết chế bảo vệ vững chắc quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Để đạt được mục tiêu đó, quá trình sửa đổi cần bám sát chủ trương của Đảng, Hiến pháp, kết quả tổng kết thực tiễn và các cam kết quốc tế; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi; đánh giá đầy đủ tác động của từng chính sách và chuẩn bị đồng bộ nguồn lực tổ chức thi hành. Chỉ trên cơ sở đó, Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi mới thực sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bảo vệ cuộc sống bình yên của Nhân dân./..
TS Nguyễn Tiến Nam
Khoa Luật - T05
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
3. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
5. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27/11/2015, được sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025.
6. Quốc hội (2021), Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 về tổ chức phiên tòa trực tuyến.
7. Quốc hội (2024), Nghị quyết số 164/2024/QH15 ngày 28/11/2024 về thí điểm xử lý vật chứng, tài sản trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự.
8. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 422/QĐ-TTg ngày 10/3/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự.
9. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2026), Dự thảo Tờ trình về dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), bản ngày 09/7/2026, tài liệu lấy ý kiến.
10. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2026), Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024 và 2025, Hà Nội.
11. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2026), “Dự thảo Hồ sơ chính sách của dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)”, Cổng thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đăng ngày 24/6/2026, truy cập ngày 15/7/2026.
12. Bộ Công an (2025), “Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm lừa đảo trực tuyến”, Cổng thông tin điện tử Bộ Công an, đăng ngày 25/10/2025, truy cập ngày 15/7/2026.
13. Bộ Công an (2025), “Chung tay phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng”, Cổng thông tin điện tử Bộ Công an, đăng ngày 29/12/2025, truy cập ngày 15/7/2026.
14. Liên hợp quốc (2024), United Nations Convention against Cybercrime, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết số 79/243 ngày 24/12/2024.
15. Liên hợp quốc (2025), “The United Nations Convention against Cybercrime opens for signature in Hanoi”, đăng ngày 25/10/2025, truy cập ngày 15/7/2026.

Ban Biên Tập Website
Mọi thông tin phản hồi xin gửi về hòm thư điện tử của Nhà trường hoặc qua hệ thống Hộp thư góp ý.


