DẪN NHẬP
Châu Á - Thái Bình Dương đang là một trong những trung tâm phát triển năng động nhất thế giới. ASEAN hiện có hơn 680 triệu dân, quy mô GDP khoảng 4.000 tỷ USD và là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, cùng với các cơ hội về liên kết kinh tế, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, khu vực cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức ngày càng phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng và những vấn đề mới do trí tuệ nhân tạo đặt ra.
Trong bối cảnh đó, nhu cầu lớn nhất của khu vực không phải là gia tăng đối đầu mà là duy trì hòa bình, củng cố ổn định, tăng cường hợp tác và tạo dựng các điều kiện thuận lợi cho phát triển bền vững. Hòa bình, ổn định và phát triển vì thế không chỉ là mục tiêu riêng của từng quốc gia mà ngày càng trở thành lợi ích chung của toàn khu vực.
Đối với các quốc gia có mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng, lợi ích quốc gia và lợi ích khu vực cũng ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau. Một môi trường khu vực hòa bình và ổn định tạo điều kiện cho phát triển; ngược lại, những bất ổn về an ninh, kinh tế hoặc môi trường đều có thể tác động trực tiếp đến triển vọng phát triển của từng quốc gia.
Việt Nam là một trường hợp điển hình của xu hướng đó. Sau gần bốn thập niên đổi mới, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có độ mở thuộc nhóm cao nhất thế giới, với quy mô GDP vượt 500 tỷ USD, kim ngạch xuất nhập khẩu khoảng 800 tỷ USD mỗi năm, tham gia 17 hiệp định thương mại tự do đang có hiệu lực và xây dựng mạng lưới hơn 30 đối tác chiến lược, đối tác toàn diện. Càng hội nhập sâu rộng vào đời sống khu vực và quốc tế, sự phát triển của Việt Nam càng gắn chặt với môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác của khu vực.
Điều đó cũng đặt ra một yêu cầu mới. Nếu trong giai đoạn trước, trọng tâm chủ yếu là tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước, thì trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần tham gia tích cực hơn vào việc duy trì và củng cố chính môi trường đó.
Từ góc độ này, vấn đề không chỉ là Việt Nam có vị thế quốc tế như thế nào, mà quan trọng hơn là Việt Nam có thể đóng góp gì cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực.
Trong giai đoạn phát triển mới, nâng cao năng lực đóng góp đối với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực không chỉ là yêu cầu của hội nhập quốc tế mà còn là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.
I. VÌ SAO VIỆT NAM CẦN NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐÓNG GÓP ĐỐI VỚI HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KHU VỰC?
Trong thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, hòa bình, ổn định và phát triển không còn đơn thuần là mục tiêu riêng của từng quốc gia mà ngày càng trở thành những lợi ích chung của khu vực. Không quốc gia nào có thể phát triển bền vững trong một môi trường bất ổn; đồng thời, nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia hay an ninh mạng đều vượt quá khả năng giải quyết của từng quốc gia đơn lẻ.
Đối với Việt Nam, mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia và lợi ích khu vực thể hiện đặc biệt rõ nét.
Trước hết, điều này được thể hiện trong lĩnh vực kinh tế. Với độ mở kinh tế vượt 180% GDP, Việt Nam thuộc nhóm các nền kinh tế hội nhập sâu rộng nhất thế giới. Tăng trưởng, thương mại, đầu tư và sự vận hành của các chuỗi cung ứng mà Việt Nam tham gia đều phụ thuộc đáng kể vào môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác của khu vực. Vì vậy, hòa bình và ổn định khu vực không chỉ là một giá trị chính trị mà còn là một lợi ích phát triển trực tiếp của đất nước.
Độ mở kinh tế cao cũng đồng thời làm gia tăng tính dễ tổn thương trước các cú sốc bên ngoài. Những biến động của kinh tế thế giới, các xung đột địa chính trị hoặc các đứt gãy chuỗi cung ứng đều có thể tác động nhanh chóng đến nền kinh tế Việt Nam. Điều đó khiến việc đóng góp vào hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực trở thành một phương thức bảo vệ lợi ích phát triển của chính mình.
Mối quan hệ này cũng thể hiện rõ trong lĩnh vực an ninh nguồn nước và phát triển bền vững. Đồng bằng sông Cửu Long hiện đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu và khoảng 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản của cả nước. Những biến động của hệ thống sông Mekong vì vậy không chỉ là vấn đề môi trường mà còn liên quan trực tiếp đến an ninh lương thực, sinh kế của hàng chục triệu người dân và triển vọng phát triển bền vững của Việt Nam.
Điều đó cho thấy lợi ích quốc gia và lợi ích khu vực trong nhiều trường hợp không đối lập mà gắn bó chặt chẽ với nhau. Đối với Việt Nam, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực không chỉ là trách nhiệm quốc tế mà còn là một yêu cầu mang tính chiến lược nhằm tạo dựng môi trường thuận lợi cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước
II. NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ LỢI THẾ CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC ĐÓNG GÓP CHO HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KHU VỰC
Việc nâng cao năng lực đóng góp của Việt Nam không bắt đầu từ con số không. Sau gần bốn thập niên đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tích lũy được nhiều điều kiện và lợi thế quan trọng.
Trước hết là những thành tựu của quá trình hội nhập quốc tế. Từ việc gia nhập ASEAN năm 1995, tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 đến việc ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Việt Nam đã mở rộng đáng kể không gian phát triển và nâng cao vị thế quốc tế của mình.
Từ một nền kinh tế có quy mô GDP khoảng 14 tỷ USD giữa thập niên 1980, Việt Nam hiện đã vượt mốc 500 tỷ USD. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng từ dưới 10 tỷ USD đầu những năm 1990 lên gần 800 tỷ USD hiện nay. Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở cao nhất thế giới và là điểm đến đầu tư hấp dẫn của khu vực.
Quá trình hội nhập cũng kéo theo sự thay đổi trong tư duy đối ngoại. Nếu trong giai đoạn đầu, trọng tâm chủ yếu là hội nhập để phát triển, thì hiện nay Việt Nam ngày càng thể hiện rõ vai trò là một thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Sự chuyển biến đó được thể hiện trên nhiều phương diện. Trong lĩnh vực hòa bình và an ninh quốc tế, Việt Nam đã tham gia ngày càng tích cực vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc thông qua các bệnh viện dã chiến cấp 2, Đội Công binh và hàng trăm cán bộ, quân nhân được triển khai tới các phái bộ quốc tế. Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam thực hiện nghiêm túc các cam kết trong CPTPP, EVFTA, RCEP và nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới khác. Trong lĩnh vực phát triển bền vững, Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và tham gia tích cực vào các nỗ lực quốc tế ứng phó với biến đổi khí hậu.
Bên cạnh những thành tựu phát triển và hội nhập, Việt Nam còn sở hữu những lợi thế riêng có trong hoạt động đối ngoại.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều quốc gia có quy mô trung bình vẫn có thể tạo dựng được vị thế đáng kể thông qua việc tạo ra những giá trị mà khu vực và thế giới đang cần. Singapore xây dựng uy tín thông qua vai trò trung tâm kết nối, trung tâm đối thoại và trung tâm sản xuất tri thức chính sách của khu vực. Đối thoại Shangri-La là minh chứng tiêu biểu. Nhật Bản chuyển hóa sức mạnh kinh tế thành đóng góp thông qua ODA, hỗ trợ kỹ thuật và phát triển hạ tầng khu vực. Hàn Quốc chuyển hóa kinh nghiệm phát triển thành nguồn lực đối ngoại thông qua các chương trình chia sẻ tri thức như KSP. Indonesia và Malaysia cũng từng bước nâng cao vai trò của mình thông qua ngoại giao đa phương, hội nhập kinh tế và thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN.
Điểm chung của các trường hợp này là uy tín quốc tế được tạo nên từ những giá trị mà quốc gia đó cung cấp cho khu vực và thế giới.
Đối với Việt Nam, giá trị lớn nhất không nằm ở khả năng cung cấp nguồn lực tài chính quy mô lớn hay công nghệ hàng đầu, mà nằm ở khả năng kết nối, thúc đẩy đối thoại, xây dựng đồng thuận và bảo vệ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế.
Đây cũng chính là ý nghĩa của ngoại giao cây tre trong giai đoạn hiện nay. Việt Nam không theo đuổi việc định hình trật tự khu vực theo nghĩa áp đặt hay cạnh tranh quyền lực, mà chủ động tham gia định hình các nguyên tắc hợp tác, các cơ chế đối thoại và những giải pháp cùng có lợi trong các lĩnh vực có lợi ích chung.
Trong các vấn đề liên quan đến hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực, Việt Nam nhất quán ủng hộ việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng lòng tin và duy trì môi trường hợp tác ổn định trong khu vực.
Đến năm 2026, Việt Nam đã thiết lập mạng lưới hơn 30 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với hầu hết các trung tâm kinh tế và chính trị quan trọng của thế giới. Đây là nguồn lực quan trọng để Việt Nam tham gia kết nối các lợi ích khác nhau, thúc đẩy hợp tác và góp phần xây dựng đồng thuận trong các vấn đề khu vực.
Những điều kiện và lợi thế đó tạo nền tảng quan trọng cho việc nâng cao năng lực đóng góp của Việt Nam. Tuy nhiên, khả năng đóng góp không chỉ phụ thuộc vào những gì Việt Nam có, mà còn phụ thuộc vào việc những nguồn lực và lợi thế đó có đáp ứng được nhu cầu thực tế của khu vực hay không.
Ảnh minh họa (Nguồn: internet)
III. KHU VỰC ĐANG CẦN GÌ VÀ VIỆT NAM CÓ THỂ ĐÓNG GÓP GÌ?
Khả năng đóng góp của một quốc gia chỉ thực sự có ý nghĩa khi những gì quốc gia đó có thể cung cấp đáp ứng được nhu cầu thực tế của khu vực. Vì vậy, để xác định không gian đóng góp của Việt Nam trong giai đoạn tới, cần xem xét đồng thời hai yếu tố: khu vực đang cần gì và Việt Nam có thể tạo ra những giá trị gì.
Hiện nay, Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương đang nổi lên bốn nhóm nhu cầu lớn.
Trước hết là nhu cầu duy trì hòa bình, ổn định và quản trị khác biệt trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục gia tăng. Đối với nhiều quốc gia trong khu vực, thách thức không chỉ là bảo vệ lợi ích quốc gia mà còn là duy trì một môi trường đủ ổn định để phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.
Thứ hai là nhu cầu tăng cường hợp tác đối với các thách thức xuyên biên giới như biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, thiên tai, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia và an ninh mạng. Đây đều là những vấn đề không quốc gia nào có thể tự giải quyết một mình.
Thứ ba là nhu cầu tìm kiếm các mô hình quản trị phù hợp trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo. ASEAN hiện là một trong những khu vực có tốc độ phát triển kinh tế số nhanh nhất thế giới, đồng thời cũng đang phải đối mặt với nhiều câu hỏi mới về dữ liệu, quyền riêng tư, quản trị AI và an ninh số.
Thứ tư là nhu cầu duy trì động lực phát triển bao trùm và bền vững trong bối cảnh già hóa dân số, chuyển đổi năng lượng và áp lực môi trường ngày càng gia tăng.
Điều đáng chú ý là nhiều nhu cầu nổi bật của khu vực hiện nay cũng chính là những lĩnh vực mà Việt Nam có lợi ích trực tiếp và đang tích lũy ngày càng nhiều kinh nghiệm thực tiễn.
Trong lĩnh vực an ninh nguồn nước và phát triển bền vững, Việt Nam là quốc gia thuộc tiểu vùng Mekong và chịu tác động trực tiếp từ những biến động của hệ thống sông Mekong. Đồng bằng sông Cửu Long hiện đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu và khoảng 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản của cả nước. Điều đó khiến Việt Nam vừa có lợi ích sâu sắc, vừa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong các vấn đề liên quan đến an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Trong lĩnh vực kinh tế và hội nhập quốc tế, Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở cao nhất khu vực, tham gia 17 hiệp định thương mại tự do đang có hiệu lực và duy trì quan hệ kinh tế với hầu hết các trung tâm tăng trưởng lớn của thế giới.
Trong lĩnh vực chuyển đổi số, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tốc độ phát triển nhanh trong ASEAN và đang tích lũy nhiều kinh nghiệm thực tiễn về quản trị số, phát triển kinh tế số và ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước.
Bên cạnh đó, những kinh nghiệm về giảm nghèo, phát triển bao trùm và hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng có giá trị tham khảo đối với nhiều quốc gia đang phát triển trong khu vực.
Giữa nhu cầu của khu vực và những lợi thế của Việt Nam đang tồn tại một vùng giao thoa đáng kể. Chính vùng giao thoa đó tạo nên không gian đóng góp của Việt Nam trong giai đoạn tới.
IV. NHỮNG RÀO CẢN ĐỐI VỚI NĂNG LỰC ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM
Mặc dù có nhiều điều kiện thuận lợi, khoảng cách giữa tiềm năng và đóng góp thực tế của Việt Nam vẫn còn đáng kể
Trước hết, Việt Nam đã tạo ra nhiều kinh nghiệm phát triển có giá trị nhưng việc tổng kết, khái quát hóa và quốc tế hóa các kinh nghiệm đó vẫn chưa tương xứng. Không ít kinh nghiệm thực tiễn có giá trị vẫn chủ yếu dừng lại ở phạm vi trong nước mà chưa được chuyển hóa thành các sản phẩm tri thức có khả năng tham gia vào các cuộc đối thoại chính sách khu vực và quốc tế.
Thứ hai, hệ sinh thái nghiên cứu và kết nối chính sách quốc tế còn hạn chế. Kinh nghiệm của Singapore, Hàn Quốc hay Australia cho thấy vai trò quan trọng của các viện nghiên cứu chiến lược và các cơ chế đối thoại Track 1.5 trong việc hình thành sáng kiến hợp tác khu vực. Đây vẫn là một lĩnh vực Việt Nam cần tiếp tục đầu tư và hoàn thiện.
Thứ ba, năng lực đề xuất, thiết kế và vận hành các cơ chế hợp tác mới còn khiêm tốn. Việt Nam đã tham gia hiệu quả nhiều cơ chế hợp tác quốc tế, nhưng khả năng chủ động kiến tạo các chương trình hợp tác mới vẫn cần được nâng cao.
Thứ tư, hạn chế về dữ liệu, nghiên cứu dự báo và nghiên cứu chiến lược vẫn là một điểm nghẽn quan trọng. Trong thời đại AI và dữ liệu lớn, chất lượng của các sáng kiến ngày càng phụ thuộc vào năng lực phân tích và dự báo.
Nhìn từ tổng thể, thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở chỗ Việt Nam thiếu tiềm năng hay động lực, mà nằm ở năng lực chuyển hóa: chuyển hóa kinh nghiệm thành tri thức, tri thức thành sáng kiến, sáng kiến thành cơ chế hợp tác và cơ chế hợp tác thành giá trị thực chất cho khu vực.
V. NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KHU VỰC
Để nâng cao năng lực đóng góp trong giai đoạn mới, Việt Nam cần tập trung vào ba hướng lớn.
Thứ nhất, tăng cường năng lực sản xuất và chia sẻ tri thức phát triển.
Sau gần bốn thập niên đổi mới, Việt Nam đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về phát triển kinh tế, giảm nghèo, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và phát triển bền vững. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc sử dụng ODA và hỗ trợ kỹ thuật, cũng như kinh nghiệm của Hàn Quốc thông qua Chương trình KSP, cho thấy tri thức phát triển có thể trở thành một nguồn lực đối ngoại quan trọng nếu được tổ chức và chia sẻ một cách hệ thống.
Thứ hai, tăng cường đóng góp các mô hình phát triển thực tiễn.
Giá trị của Việt Nam không nhất thiết nằm ở việc cung cấp nguồn lực vật chất quy mô lớn, mà ở khả năng chia sẻ những kinh nghiệm đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn. Đó có thể là các mô hình về giảm nghèo, phát triển nông nghiệp, chuyển đổi số, xây dựng nông thôn mới, thích ứng với biến đổi khí hậu hoặc phát triển đô thị bền vững.
Thứ ba, tăng cường đóng góp sáng kiến và cơ chế hợp tác.
Điều quan trọng không phải là theo đuổi vai trò dẫn dắt theo nghĩa quyền lực truyền thống, mà là chủ động tham gia kiến tạo những không gian hợp tác mới hoặc nâng cao hiệu quả của các cơ chế hiện có.
Từ góc độ đó, Việt Nam có thể xem xét một số hướng đi cụ thể:
- Xây dựng các diễn đàn đối thoại chính sách thường niên về những lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế và lợi ích trực tiếp như an ninh nguồn nước Mekong, an ninh lương thực, chuyển đổi xanh hoặc quản trị số.
- Phát triển mạnh hơn các cơ chế Track 1.5 và Track 2 nhằm kết nối cơ quan hoạch định chính sách, học giả, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế.
- Xây dựng các chương trình chia sẻ kinh nghiệm phát triển của Việt Nam theo hướng có hệ thống, qua đó chuyển hóa những kinh nghiệm về đổi mới, giảm nghèo, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số thành nguồn tri thức có khả năng đóng góp cho khu vực.
Nâng cao năng lực đóng góp vì vậy không chỉ là mở rộng hoạt động đối ngoại, mà còn là quá trình nâng cao năng lực thể chế, năng lực tri thức và năng lực hợp tác của chính Việt Nam.
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh khu vực và thế giới đang trải qua những biến động sâu sắc, giá trị của một quốc gia ngày càng được đo bằng khả năng đóng góp đối với các lợi ích chung.
Đối với Việt Nam, yêu cầu nâng cao năng lực đóng góp đối với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực xuất phát từ cả lợi ích quốc gia lẫn trách nhiệm quốc tế. Càng hội nhập sâu rộng vào đời sống khu vực và quốc tế, sự phát triển của Việt Nam càng gắn chặt với môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác của khu vực.
Sau gần bốn thập niên đổi mới, Việt Nam đã tích lũy được nhiều điều kiện thuận lợi để thực hiện vai trò đó: một nền kinh tế có độ mở cao, những kinh nghiệm phát triển có giá trị, một vị thế quốc tế ngày càng được củng cố và một phương thức đối ngoại phù hợp với đặc điểm của một quốc gia tầm trung.
Tuy nhiên, những điều kiện đó chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành những đóng góp cụ thể đối với các vấn đề chung của khu vực.
Trong thời gian tới, nâng cao năng lực đóng góp của Việt Nam không chỉ là yêu cầu của hội nhập quốc tế mà còn là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước. Thông qua những đóng góp thiết thực cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực, Việt Nam không chỉ góp phần xây dựng môi trường thuận lợi cho sự phát triển của chính mình mà còn tiếp tục củng cố uy tín, nâng cao vị thế và khẳng định vai trò là thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
PGS TS, Đại tá Trần Ngọc Đức
Nguyên Trưởng Khoa Luật - Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 2. Tô Lâm (2026), Bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23, Singapore. 3. ASEAN Secretariat (2025), ASEAN Statistical Highlights 2025, Jakarta, Indonesia. 4. ASEAN Secretariat (2025), ASEAN Key Figures 2025, Jakarta, Indonesia. 5. International Monetary Fund (IMF) (2025), World Economic Outlook: A Critical Juncture amid Policy Shifts, Washington D.C., USA. 6. World Bank (2025), Taking Stock: Viet Nam Economic Update, Washington D.C., USA. 7. Trung tâm WTO và Hội nhập (VCCI) (2026), Tổng hợp các FTA của Việt Nam tính đến tháng 2/2026, truy cập tại: https://trungtamwto.vn/thong-ke/12065-tong-hop-cac-fta-cua-viet-nam-tinh-den-thang-112018 (truy cập ngày 31/5/2026). 8. Hữu Dương, Trung Thành (2024), Dấu ấn chặng đường 10 năm lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân điện tử, truy cập tại: https://www.qdnd.vn/quoc-te/doi-ngoai-quoc-phong/dau-an-chang-duong-10-nam-luc-luong-gin-giu-hoa-binh-cua-viet-nam-778505 (truy cập ngày 31/5/2026). 9. Japan International Cooperation Agency (JICA) (2024), JICA Annual Report 2024, Tokyo, Japan. 10. Korea Development Institute (KDI) (2024), Knowledge Sharing Program (KSP) Annual Report 2024, Seoul, Republic of Korea. 11. United Nations Peacekeeping (2025), UN Peacekeeping Fact Sheet, United Nations, New York, USA. 12. Google, Temasek và Bain & Company (2024), e-Conomy SEA 2024, Singapore. 13. GSMA (2025), The Mobile Economy Asia Pacific 2025, London, United Kingdom. 14. Cục Thống kê (2025), Niên giám thống kê Việt Nam 2024, Nxb Thống kê, Hà Nội.
Ban Biên Tập Website
Mọi thông tin phản hồi xin gửi về hòm thư điện tử của Nhà trường hoặc qua hệ thống Hộp thư góp ý.