Sự bùng nổ của công nghệ thông tin trong thời đại kỷ nguyên số đã đặt con người, đặc biệt là trẻ em trước những nguy cơ rình rập từ tội phạm xâm hại tình dục trên không gian mạng. Đáng lo ngại hơn, những hành vi phạm tội này không còn để lại những dấu vết vật chất thông thường mà ẩn mình dưới dạng các dữ liệu điện tử như một dòng tin nhắn ẩn danh, lịch sử truy cập bị xóa tự động hay những video được mã hóa trên lưu trữ đám mây. Sự tinh vi của tội phạm công nghệ cao đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng cần chủ động trước một cuộc chiến mới - cuộc chiến giải mã dấu vết điện tử. Do đó, việc nhận diện, thu thập và đánh giá một cách khoa học các dấu vết điện tử ngay từ giai đoạn đầu chính là “chìa khóa” quan trọng, quyết định hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này đồng thời góp phần bảo vệ trẻ em toàn diện trên không gian mạng.
1. Cơ sở pháp lý
Căn cứ theo khoản 1 Điều 37 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”. Đồng thời, Điều 25 Luật Trẻ em 2016 cũng quy định: “Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục”.
Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: “Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với người dưới 16 tuổi và sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức (ví dụ: hoạt động xâm hại tình dục được thực hiện do đồng thuận với người dưới 13 tuổi); do cưỡng bức, do hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ...).” Do đó, hành vi giao cấu với người dưới 13 tuổi dù đồng thuận hay do cưỡng bức, hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ...) đều là hoạt động xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi bị pháp luật nghiêm cấm.
Bộ luật Hình sự 2015 cũng nêu rõ quy định người nào có hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi thì bị phạt tù từ 07-15 năm tại điểm b khoản 1 Điều 142 được sửa đổi bởi khoản 24 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Ngoài ra, việc quan hệ với người dưới 13 tuổi tự nguyện cũng được xếp vào một trong các hành vi phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Như vậy, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi xâm hại tình dục người dưới 13 tuổi về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo Bộ luật Hình sự hiện hành.
Trong những năm gần đây, trước sự phát triển của công nghệ mạng, tình trạng trẻ em bị xâm hại qua mạng đang dần phổ biến và có xu hướng gia tăng. Trước tình hình trên, vấn đề bảo vệ trẻ em trên không gian mạng đã được đề cập trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, điển hình như: như Luật Công nghệ thông tin, Luật An toàn thông tin mạng, Luật Trẻ em, Luật an ninh mạng. Vào tháng 6/2021, Chương trình “Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo trên môi trường mạng giai đoạn 2021-2025” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đây cũng là chương trình quốc gia đầu tiên của Việt Nam nhằm bảo vệ và hỗ trợ trẻ em trên không gian mạng. Tiếp nối thành công của Chương trình, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an chủ trì, phối hợp Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, Hiệp hội An ninh mạng quốc gia tổ chức “Lễ tiếp nhận ý kiến trẻ em về Chương trình bảo vệ và hỗ trợ trẻ em trên môi trường mạng giai đoạn 2026 - 2030”, trên cơ sở đó cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, giải pháp bổ sung vào hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nhằm củng cố toàn diện các giải pháp bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, đồng thời, góp phần chung vào quá trình thúc đẩy và thực thi các trụ cột Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm mạng tại Việt Nam.
Như vậy, hành vi xâm hại trẻ em dù ở bất cứ lý do gì cũng đều bị nghiêm cấm, bởi nó không chỉ gây ra những tổn thương về thể xác mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần và tâm lý của trẻ em. Trẻ em bị xâm hại có thể mắc phải các rối loạn về cảm xúc, hành vi và nhận thức như lo âu, ám ảnh, tự ti, tự kỷ, tự tử hoặc bạo lực. Bên cạnh đó, trẻ em bị xâm hại cũng có khả năng cao bị ảnh hưởng đến sự học tập, giao tiếp và hòa nhập xã hội.
2. Tình hình tội phạm xâm hại tình dục trẻ em qua mạng
Theo kết quả khảo sát của Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an trong giai đoạn 2021 – 2025, 100% số trẻ tham gia cho biết đã từng gặp ít nhất một dạng rủi ro trên môi trường mạng. Các loại rủi ro phổ biến nhất là: Nội dung xấu, phản cảm, không phù hợp ( khoảng 53%); Bị lừa đảo hoặc xúc phạm/đe doạ ( khoảng 40%); Trẻ còn có thể tiếp cận, mua sắm các sản phẩm nguy hiểm, độc hại trên môi trường số[[1]](#_ftn1). Điểm trung bình trẻ tự đánh giá về khả năng an toàn khi tham gia môi trường số nằm trong khoảng 3.0 - 3.4/5 (nghĩa là có kiến thức nhưng còn hạn chế về khả năng áp dụng thực tế). Thủ đoạn phổ biến là thông qua các dịch vụ mạng xã hội, ứng dụng hẹn hò để kết bạn, làm quen, dụ dỗ trẻ em gặp gỡ để quan hệ, xâm hại tình dục. Một số đối tượng thông qua mạng xã hội, làm quen, đặt vấn đề quan hệ tình cảm hoặc hứa hẹn cho tiền, quà để dụ dỗ, đe dọa, ép buộc trẻ em trình diễn khiêu dâm qua mạng. Một số trường hợp còn đăng tải lên không gian mạng các hình ảnh, clip trẻ em bị xâm hại tình dục, bị bạo lực học đường; các hình ảnh riêng tư, nhạy cảm của trẻ em, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần, cuộc sống riêng tư của trẻ. Đặc biệt, thời gian gần đây nổi lên thủ đoạn thông qua mạng xã hội làm quen, “núp bóng” tuyển dụng để hẹn gặp gỡ, lôi kéo, khống chế, cưỡng ép đưa trẻ em đến các khu lao động bất hợp pháp tại nước ngoài để bóc lột lao động, bóc lột tình dục.
Ngoài ra, theo báo cáo “Nghiên cứu ngăn chặn hành vi gây tổn hại tại Việt Nam” do mạng lưới toàn cầu về chấm dứt tình trạng bóc lột tình dục trẻ em ECPAT, Tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế (Interpol) và Văn phòng Nghiên cứu của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) Innocenti công bố ngày 3/8/2022, 89% trẻ em từ 12 - 17 tuổi tại Việt Nam, cả trẻ em trai lẫn trẻ em gái, có sử dụng Internet - tức là các em có truy cập Internet trong 3 tháng qua. Trong số đó 87% sử dụng Internet hàng ngày. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy những con số đáng báo động. Theo đó, 1% người dùng là trẻ em từ 12 - 17 tuổi ở Việt Nam là nạn nhân của bạo lực và xâm hại tình dục. Nếu nhân với dân số quốc gia thì con số này ước tính lên tới 94.000 trẻ bị bạo lực và xâm hại tình dục chỉ trong 1 năm[[2]](#_ftn2). Các nhà nghiên cứu cho rằng có khả năng con số này còn cao hơn trẻ ngại chia sẻ về vấn đề này. Nghiên cứu ngăn chặn hành vi gây tổn hại tại Việt Nam phát hiện ra nhiều trẻ thiếu thông tin, nhận thức, kiến thức về bạo lực và xâm hại tình dục trẻ em qua mạng. Điều này càng làm tăng tình trạng dễ bị tổn thương của các em. Các nền tảng truyền thông xã hội, Internet ở Việt Nam đang bị lạm dụng để nhắm vào những trẻ dễ bị tổn thương.
3. Một số vấn đề về dấu vết điện tử trong vụ án xâm hại tình dục trẻ em qua mạng
Dấu vết điện tử trong vụ án xâm hại tình dục trẻ em là những phản ánh vật chất tồn tại dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bỡi các thiết bị, phương tiện điện tử có liên quan đến các hành vi xâm hại tình dục trẻ em, cần được phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản, đánh giá và giám định phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Dấu vết điện tử trong các vụ án xâm hại tình dục trẻ em tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau. Đó có thể là dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số… nhằm biểu thị cho một thông điệp, một ý tưởng hoặc một nội dung nhất định; hay hiển thị dưới dạng âm thanh, ảnh số, video số được chụp, quét, tạo ra hoặc truyền, nhận nhằm ghi lại các sự kiện, cảnh vật, con người… có liên quan đến hành vi phạm tội. Với tính đặc thù nên dấu vết điện tử có những đặc điểm đặc trưng như luôn gắn liền với thiết bị, phương tiện điện tử và không thể tri giác trực tiếp, có thể được mã hóa, ẩn đi, sao chép, chỉnh sửa, truyền đi và có thể phục hồi.
Đặc trưng bắt buộc của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em qua mạng là việc sử dụng phương tiện điện tử kết nối mạng viễn thông, Internet hoặc mạng xã hội. Do đó, cơ chế hình thành dấu vết trong các vụ án này tập trung vào hệ thống dấu vết điện tử phản ánh hành vi và định danh chủ thể. Hệ thống này bao gồm hai nhóm chính:
- Dấu vết hệ thống (tự động tạo lập): Gồm IP, cookies, URL, lịch sử truy cập, mã độc, nhật ký máy chủ web/bức tường lửa (web/firewall server logs) hoặc nhật ký thư điện tử (email logs)... giúp chứng minh nguồn gốc truy cập và phương thức tấn công dữ liệu.
- Dấu vết người dùng (chủ động tạo lập): Gồm các tệp tin văn bản, đồ họa, hình ảnh, video hoặc dữ liệu số hóa... giúp chứng minh căn ước của người thực hiện và thiết bị tạo lập, lưu trữ dữ liệu.
Thực tiễn đấu tranh cho thấy, phương thức thủ đoạn của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em qua mạng chủ yếu vận hành qua hai mô hình: (1) Tiếp cận, thao túng tâm lý (grooming) qua mạng xã hội, ứng dụng hẹn hò hoặc giả danh tuyển dụng nhằm cưỡng bức, bóc lột tình dục/lao động; (2) Phát tán, số hóa các vật phẩm đồi trụy trẻ em (CSAM) và hình ảnh nhạy cảm cá nhân.
Về mặt tội phạm học, cơ chế tương tác này định hình nên hệ thống dấu vết điện tử lưu vết trên thiết bị đầu cuối (máy tính, điện thoại) và hạ tầng mạng. Bản chất học thuật và đặc trưng pháp lý của loại chứng cứ kỹ thuật số này được thể hiện qua các thuộc tính sau:
- Tính phản ánh vật chất kỹ thuật số: Dù tồn tại dưới dạng chuỗi dữ liệu (ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh) được tạo lập, truyền đưa bởi phương tiện điện tử, đây vẫn là những phản ánh vật chất khách quan, hình thành trực tiếp từ hành vi phạm tội.
- Tính phi vật thể: Do tồn tại trong môi trường kỹ thuật số, dấu vết điện tử mang đặc tính vô hình, không thể tiếp cận bằng cảm giác cơ học thông thường mà phải thông qua các công cụ trích xuất chuyên dụng.
- Tính phi biên giới (Xuyên quốc gia): Dữ liệu điện tử có tính dịch chuyển linh hoạt, không bị giới hạn bởi ranh giới địa lý hành chính. Hành vi khởi tạo dữ liệu bất hợp pháp có thể diễn ra tại một quốc gia, nhưng hạ tầng lưu trữ (máy chủ đám mây) lại đặt tại một quốc gia khác.
Để phát hiện và thu thập dấu vết chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án xâm hại tình dục trẻ em qua mạng thì vấn đề quan trọng nhất là xác định được các thiết bị, phương tiện điện tử dùng để thực hiện hành vi, cách thức khởi tạo, lưu trữ và truyền thông tin có liên quan đến hành vi phạm tội. Từ đó thực hiện theo đúng quy trình, quy định, có chuyên gia và các phương tiện, phần mềm chuyên dùng để khôi phục, thu thập dấu vết, chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội.
Cơ sở pháp lý cho hoạt động thu giữ phương tiện và dữ liệu điện tử được quy định tại Điều 107 và Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, quy trình tố tụng này đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc khoa học hình sự nhằm bảo đảm tính nguyên trạng, tính khách quan và tính toàn vẹn của chứng cứ kỹ thuật số, cụ thể tập trung vào các yêu cầu sau:
Thứ nhất, phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, mô tả chính xác thực trạng vật lý và tiến hành niêm phong ngay sau khi thu giữ theo đúng thủ tục luật định. Mục tiêu cốt lõi là tối đa hóa phạm vi thu thập, bảo đảm tính toàn diện của dữ liệu và triệt tiêu nguy cơ bỏ sót chứng cứ có giá trị chứng minh. Khi thu giữ, cần bóc tách và thu thập đồng bộ cả thiết bị ngoại vi cùng các tài liệu học thuật, kỹ thuật liên quan.
Thứ hai, việc can thiệp, phân tích hoặc phục hồi thông tin gốc trên phương tiện lưu trữ bắt buộc phải do người có thẩm quyền tố tụng phối hợp cùng các chuyên gia kỹ thuật số pháp y (Digital Forensics) thực hiện. Toàn bộ tiến trình này phải được ghi nhận, lưu vết kiểm toán (audit trail) để phục vụ hoạt động kiểm chứng và tranh tụng về sau.
Thứ ba, trong trường hợp không thể thu giữ vật chứng cơ học, cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành sao lưu dữ liệu (Bit-stream image) vào phương tiện lưu trữ chuẩn và bảo quản theo quy chế vật chứng. Đồng thời, áp dụng biện pháp chế tài, buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm pháp lý trong việc lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu gốc đó.
Thứ tư, mọi hoạt động từ thu thập, chặn thu đến sao lưu dấu vết điện tử trên phương tiện, mạng máy tính, mạng viễn thông hay trên đường truyền đều phải được lập biên bản tố tụng và đưa vào hồ sơ vụ án nhằm bảo đảm tính hợp pháp tuyệt đối của nguồn chứng cứ.
Cần chú ý công tác thu thập dấu vết điện tử trong các vụ án xâm hại tình dục trẻ em qua mạng thường được tiến hành thông qua các hoạt động tố tụng như khám nghiệm hiện trường, khám xét; trưng cầu giám định và các họat động khác như lấy lời khai, hỏi cung… Đối với hoạt động đánh giá và sử dụng chứng cứ điện tử trong các vụ án xâm hại tình dục trẻ em qua mạng do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định giá trị chứng minh của dữ liệu. Nội dung và mục đích của tiến trình này tập trung vào hai vấn đề cốt lõi: Xem xét toàn diện cơ chế hình thành, dạng tồn tại, nguyên nhân, điều kiện của dữ liệu điện tử nhằm kết luận về tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp của nguồn chứng cứ theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành; Xác định vai trò, ý nghĩa của chứng cứ điện tử trong cấu trúc tổng thể các chứng cứ của vụ án; giải quyết mối quan hệ tương hỗ và mâu thuẫn (nếu có) giữa chứng cứ kỹ thuật số với chứng cứ truyền thống (lời khai, vật chứng...) nhằm làm rõ sự thật khách quan.
Nghiên cứu về dấu vết điện tử trong các vụ án xâm hại tình dục trẻ em qua mạng cho thấy đòi hỏi tất yếu của mô hình chứng cứ từ truyền thống sang kỹ thuật số trong kỷ nguyên công nghệ, dấu vết điện tử vừa là công cụ sắc bén để định danh thủ phạm, vừa là thách thức lớn đối với cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm tính nguyên trạng và giá trị chứng minh pháp lý, với tính chất đặc thù của mình là tồn tại dưới dạng dữ liệu trong môi trường ảo, dấu vết điện tử sở hữu những yêu cầu phức tạp đối với công tác phát hiện, thu thập, bảo quản và đánh giá, sử dụng làm chứng cứ trong việc chứng minh tội phạm./.
TS Vũ Thị Hồng Phương – Khoa Luật
Tài liệu tham khảo:1. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
2. Quốc hội (2025), Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2021 và năm 2025), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
3. Quốc hội (2025), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
4. Quốc hội (2015), Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
5. Quốc hội (2025), Luật Giám định tư pháp năm 2025, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
6. Quốc hội (2016), Luật trẻ em năm 2016, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
[[1]](#_ftnref1) https://bocongan.gov.vn/bai-viet/chung-tay-bao-ve-va-ho-tro-tre-em-tren-moi-truong-mang-1764243428

Ban Biên Tập Website
Mọi thông tin phản hồi xin gửi về hòm thư điện tử của Nhà trường hoặc qua hệ thống Hộp thư góp ý.


